THCS Tô Ngọc Vân

Mẩu chuyện Bác Hồ: Lấy dân làm gốc Mẩu chuyện Bác Hồ: Lấy dân làm gốc BÁC KHÔNG THĂM NHỮNG NGƯỜI NHƯ MẸ CON THÍM THÌ CÒN THĂM AI Thấy người lạ, mấy em quay ra nhìn tôi. Em lớn, cặp mắt như dò hỏi nhưng vẫn lễ phép : Cháu chào Bác ạ ! Mẹ cháu đâu ? Tôi vội hỏi . Bác ạ, bác hỏi gì cháu ? Chị Chín từ trong nhà bếp đi ra, vai quẩy đôi thùng, có lẽ rằng chị đi gánh nước để sớm mai khỏi bị “ dông ” . Chị vừa vấn đáp vừa nhìn tôi hơi quá bất ngờ, tôi vội bảo : Chị ạ, chị ở nhà … Chị Chín có vẻ như lo ngại, quay lại nhìn lũ trẻ. Hình như chị lo lũ trẻ nghịch dại nên cán bộ tới chăng ? Tôi vội bảo thêm : Chị ở nhà, có khách đến thăm Tết đấy ! Vừa lúc ấy, Bác đã bước vào. Chị Chín sửng sốt nhìn Bác. Chiếc đòn gánh bỗng rơi khỏi vai chị. Chiếc thùng sắt rơi xuống đất kêu loảng xoảng. Tôi vội xếp lại hộ chị. Mấy cháu nhỏ kêu lên : “ Bác, Bác Hồ ” rồi chạy lại quanh Bác . Lúc này chị Chín mới như chợt tỉnh, chị chạy tới ôm choàng lấy Bác và tự nhiên khóc nức nở. Đôi vai gầy sau làn áo nâu bạc rung lên từng đợt . Bác đứng lặng, hai tay Người nhẹ vuốt lên mái tóc chị Chín. Chờ cho chị bớt xúc động, Người an ủi : Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại khóc ? Tuy cố nén, nhưng chị Chín vẫn không ngừng thổn thức, chị nói : Có khi nào … có khi nào quản trị nước lại tới thăm nhà chúng con …, mà giờ đây mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm động quá ! Mừng quá … thành ra con khóc … Bác nhìn chị Chín, nhìn những cháu một cách trìu mến và bảo : Bác không tới thăm những người như mẹ con thím thì còn thăm ai ? Người xoa đầu những cháu và cho những cháu kẹo, rồi hỏi chị Chín : Thím lúc bấy giờ làm gì ? Dạ, cháu làm phu khuân vác ở Văn Điển ạ ! Như vậy là làm công nhân chứ ! Sao gọi là phu ? Vâng ạ, cháu trót quen miệng như trước kia . Thím vẫn chưa có việc làm không thay đổi à ? Dạ, cháu đã ngoài ba mươi tuổi, lại kém văn hóa truyền thống nên tìm việc có nghề nghiệp cũng khó . Bác quay nhìn chiến sỹ Phó Bí thư Thành ủy và chiến sỹ quản trị Ủy ban Hành chính Thành phố TP.HN. Bác lại hỏi : Mẹ con thím có bị đói không ? Thưa Bác, hồi Tây còn ở đây thì dẫu có cả bố cháu cũng vẫn đói ạ ! Bây giờ bố cháu mất rồi, nhưng đói thì không ngại, rét cũng không lo, tuy nhiên việc tiêu tốn thì còn chắt chiu lắm ạ ! Nói tới đây thì chị lại rơm rớm nước mắt . Bác chỉ vào cháu lớn nhất và hỏi : Cháu có đi học không ? Dạ, cháu đang học lớp bốn ạ ! Cháu nó khó khăn vất vả lắm ! Sáng đi học, chiều về phải trông những em và đi bán kem, hoặc đi bán lạc rang để đỡ đần cháu … Còn cháu thứ hai thì học lớp ba, cháu thứ ba học lớp hai. Dạ, khó khăn vất vả nhưng vợ chồng cháu trước đã dốt nát, nay cũng phải cố để cho những cháu đi học . Bác tỏ ý bằng lòng. Người ân cần dặn dò việc làm ăn và việc học tập cho những cháu. Nhân dân trong ngõ đã tới quây quần trước sân. Bác bước ra thăm hỏi động viên và chúc Tết bà con. Mọi người cùng mẹ con chị Chín theo tiễn Bác ra xe. Khi chiếc xe từ từ lăn bánh, mấy mẹ con chị vẫy chào Bác, nhưng nét mặt chị Chín vẫn bàng hoàng như việc Bác vào thăm Tết nhà chị không rõ là thật hay hư . Trên xe về Phủ quản trị, vầng trán bát ngát của Người còn đượm những nét tâm lý. Tôi khẽ trình diễn với Bác : Thưa Bác, năm nay Thành ủy Thành Phố Hà Nội đã đề ra mười vạn đồng trợ cấp cho những mái ấm gia đình túng thiếu . Bác quay lại nhìn tôi rồi bảo : Bác biết, nhưng muốn cho mọi người vui Tết, trước hết phải lo cho ai cũng có việc làm. Phải quan tâm những người đặc biệt quan trọng khó khăn vất vả . Ý nghĩa câu chuyện: Qua câu truyện trên nhắc nhở tất cả chúng ta phải biết gần dân, chăm sóc giúp sức những người có đời sống còn khó khăn vất vả khó khăn vất vả, lắng nghe quan điểm của nhân dân, phải thật sự là người nô lệ trung thành với chủ của nhân dân, hết lòng rất là phụng sự nhân dân . Bài học kinh nghiệm: Trước hết là bài học “ Lấy dân làm gốc ”, bao nhiêu quyền lợi cũng vì dân, việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng rất là làm ; việc gì có hại cho dân cũng rất là tránh . Phải rèn luyện cho mình phong thái dân chủ, gần gủi, sâu sát nhân dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng nguyện vọng của nhân dân để thiết kế xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động giải trí tương thích với thực tiễn mới được dân tin, dân yêu, dân ưng ý ủng hộ mang lại hiệu suất cao cao nhất . Tấm gương đạo đức của Bác không phải là những gì cao siêu, khó triển khai mà là những tấm gương rất gần gủi, dễ triển khai nếu bản thân rèn luyện liên tục và phải rèn luyện suốt đời, sẽ ngấm dần vào máu, trở thành nhân sinh quan chỉ huy cho hành vi của mỗi người .
Mẩu chuyện số 12: Lấy dân làm gốc Mẩu chuyện số 12: Lấy dân làm gốc Thấy người lạ, mấy em quay ra nhìn tôi. Em lớn, cặp mắt như dò hỏi nhưng vẫn lễ phép: Cháu chào Bác ạ! Mẹ cháu đâu? Tôi vội hỏi. Bác ạ, bác hỏi gì cháu? Chị Chín từ trong bếp đi ra, vai quẩy đôi thùng, có lẽ chị đi gánh nước để sớm mai khỏi bị “dông”. Chị vừa trả lời vừa nhìn tôi hơi ngạc nhiên, tôi vội bảo: Chị ạ, chị ở nhà…Chị Chín có vẻ lo lắng, quay lại nhìn lũ trẻ. Hình như chị lo lũ trẻ nghịch dại nên cán bộ tới chăng? Tôi vội bảo thêm: Chị ở nhà, có khách đến thăm Tết đấy! Vừa lúc ấy, Bác đã bước vào. Chị Chín sửng sốt nhìn Bác. Chiếc đòn gánh bỗng rơi khỏi vai chị. Chiếc thùng sắt rơi xuống đất kêu loảng xoảng. Tôi vội xếp lại hộ chị. Mấy cháu nhỏ kêu lên: “Bác, Bác Hồ” rồi chạy lại quanh Bác. Lúc này chị Chín mới như chợt tỉnh, chị chạy tới ôm choàng lấy Bác và bỗng nhiên khóc nức nở. Đôi vai gầy sau làn áo nâu bạc rung lên từng đợt. Bác đứng lặng, hai tay Người nhẹ vuốt lên mái tóc chị Chín. Chờ cho chị bớt xúc động, Người an ủi: Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại khóc? Tuy cố nén, nhưng chị Chín vẫn không ngừng thổn thức, chị nói: Có bao giờ… có bao giờ Chủ tịch nước lại tới thăm nhà chúng con…, mà bây giờ mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm động quá! Mừng quá… thành ra con khóc… Bác nhìn chị Chín, nhìn các cháu một cách trìu mến và bảo: Bác không tới thăm những người như mẹ con thím thì còn thăm ai? Người xoa đầu các cháu và cho các cháu kẹo, rồi hỏi chị Chín: Thím hiện nay làm gì? Dạ, cháu làm phu khuân vác ở Văn Điển ạ! Như vậy là làm công nhân chứ! Sao gọi là phu? Vâng ạ, cháu trót quen miệng như trước kia. Thím vẫn chưa có công việc ổn định à? Dạ, cháu đã ngoài ba mươi tuổi, lại kém văn hoá nên tìm việc có nghề nghiệp cũng khó. Bác quay nhìn đồng chí Phó Bí thư Thành uỷ và đồng chí Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Thành phố Hà Nội. Bác lại hỏi: Mẹ con thím có bị đói không? Thưa Bác, hồi Tây còn ở đây thì dẫu có cả bố cháu cũng vẫn đói ạ! Bây giờ bố cháu mất rồi, nhưng đói thì không ngại, rét cũng không lo, song việc chi tiêu thì còn chắt chiu lắm ạ! Nói tới đây thì chị lại rơm rớm nước mắt. Bác chỉ vào cháu lớn nhất và hỏi: Cháu có đi học không? Dạ, cháu đang học lớp bốn ạ! Cháu nó vất vả lắm! Sáng đi học, chiều về phải trông các em và đi bán kem, hoặc đi bán lạc rang để đỡ đần cháu… Còn cháu thứ hai thì học lớp ba, cháu thứ ba học lớp hai. Dạ, khó khăn nhưng vợ chồng cháu trước đã dốt nát, nay cũng phải cố để cho các cháu đi học. Bác tỏ ý bằng lòng. Người ân cần dặn dò việc làm ăn và việc học tập cho các cháu. Nhân dân trong ngõ đã tới quây quần trước sân. Bác bước ra thăm hỏi và chúc Tết bà con. Mọi người cùng mẹ con chị Chín theo tiễn Bác ra xe. Khi chiếc xe từ từ lăn bánh, mấy mẹ con chị vẫy chào Bác, nhưng nét mặt chị Chín vẫn bàng hoàng như việc Bác vào thăm Tết nhà chị không rõ là thật hay hư. Trên xe về Phủ Chủ tịch, vầng trán mênh mông của Người còn đượm những nét suy nghĩ. Tôi khẽ trình bày với Bác: Thưa Bác, năm nay Thành uỷ Hà Nội đã đề ra mười vạn đồng trợ cấp cho các gia đình túng thiếu. Bác quay lại nhìn tôi rồi bảo: Bác biết, nhưng muốn cho mọi người vui Tết, trước hết phải lo cho ai cũng có việc làm. Phải chú ý những người đặc biệt khó khăn.
Mẩu chuyện số 11: Tinh thần tự học của Bác Mẩu chuyện số 11: Tinh thần tự học của Bác Mùa hè năm 1911, Bác đặt chân lên đất Pháp, đối với Bác, kể từ thời điểm đó mọi việc từ sinh hoạt hàng ngày, tới công việc, nhằm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đều phải sử dụng tiếng Pháp. Vì thế, nếu không biết tiếng Pháp thì thật là “trở ngại lớn nhất trên con đường tìm đường cứu nước, cứu dân”. Bác đã đặt ra quyết tâm “Nhất định phải học nói, học viết cho kỳ được” và Bác đã tìm ra được phương pháp học cho riêng mình dù trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn. Ngay khi còn trên chuyến tàu sang Pháp (La-tu-sơ Tơ-rê-vin, dưới các tên Văn Ba) mỗi lúc rảnh rổi, Bác thường tìm đến hai người lính trẻ đi cùng chuyến tàu để học đọc và viết tiếng Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nhỏ in tiếng Pháp. Muốn biết rõ về cái gì, muốn biết đồ vật nào đó viết bằng tiếng Pháp như thế nào, Bác đều chỉ tay hỏi. Tối tối, sau khi đi làm về, Bác ghi lại những từ mới vào. Học được chữ nào, Bác ghép chúng lại thành câu thực hành ngay. Ban đầu, Bác tập ghép một vài từ, sau ghép thành đoạn, dần dần Người tập viết thành từng bài dài. Một thời gian sau, Bác tìm đến các tờ báo của Pháp để xin được viết bài đăng báo. Trong những lần gửi bài, Bác nói với mọi người trong Tòa soạn rằng: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết này của tôi được đăng, nhưng dù thế nào cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi”. Sau mỗi lần bài viết của Bác được đăng báo, Bác vui mừng khôn xiết, và theo chỉ dẫn của những chủ bút Bác vẫn không quên xem lại từng câu từng chữ, xem bài viết của mình đúng sai chỗ nào, Toà soạn báo đã sửa lại cho mình ra sao? Bác tập viết đi viết lại, khi thì viết diễn giải ra cho dài, lúc là những đoạn ngắn cho súc tích. Cứ sau mỗi ngày làm việc, dù công việc bận bịu tới đâu, Bác vẫn tranh thủ đọc vài trang tiểu thuyết, vừa để giải trí, thư giãn đầu óc lại vừa để trau dồi kiến thức. Bác tập viết những bài phóng sự. Sáng nào Bác cũng viết từ 5 giờ đến 6 giờ rưỡi, tới 7 giờ Bác lại bắt tay vào công việc. Dù trời nóng hay rét, Bác cũng không nản chí. Thấm thoắt thời gian trôi đi, cho đến năm 1922, Bác đã trở thành chủ bút của tờ báo “Người cùng khổ” viết bằng 3 thứ tiếng. Tên báo bằng tiếng Pháp đặt ở giữa, chữ Ả Rập bên trái và bên phải là chữ Hán, tất cả đều do Bác viết. Do Tòa soạn báo không có Ban biên tập thường xuyên, nên nhiều khi Bác phải “cáng đáng” mọi việc từ khâu sửa chữa, biên tập bài vở, tới khâu bán báo.
Mẩu chuyện số 10: Bài học về sự chăm lo của Bác Hồ (Chiếc áo ấm) Mẩu chuyện số 10: Bài học về sự chăm lo của Bác Hồ (Chiếc áo ấm) Một đêm mùa đông năm 1951, gió bấc tràn về mang theo những hạt mưa lâm thâm làm cho khí trời càng thêm lạnh giá. Thung lũng bản Ty co mình lại trong yên giấc, trừ một ngôi nhà sàn nhỏ còn phát ra ánh sáng. Ở đây, Bác vẫn thức, vẫn làm việc khuya như bao đêm bình thường khác. Bỗng cánh cửa nhà sàn hé mở, bóng Bác hiện ra. Bác bước xuống cầu thang, đi thẳng về phía gốc cây, chỗ tôi đang đứng gác. – Chú làm nhiệm vụ ở đây có phải không? – Thưa Bác, vâng ạ! – Chú không có áo mưa? Tôi ngập ngừng nhưng mạnh dạn đáp: – Dạ thưa Bác, cháu không có ạ! Bác nhìn tôi từ đầu đến chân ái ngại: – Gác đêm, có áo mưa, không ướt, đỡ lạnh hơn… Sau đó, Bác từ từ đi vào nhà, dáng suy nghĩ… Một tuần sau, anh Bảy cùng mấy người nữa đem đến cho chúng tôi 12 chiếc áo dạ dài chiến lợi phẩm. Anh nói: – Bác bảo phải cố gắng tìm áo mưa cho anh em. Hôm nay có mấy chiếc áo này, chúng tôi mang lại cho các đồng chí. Được một chiếc áo như thế này là một điều quý, nhưng đối với chúng tôi còn quý giá và hạnh phúc hơn khi Bác trực tiếp chăm lo, săn sóc với cả tấm lòng yêu thương của một người cha. Sáng hôm sau, tôi mặc chiếc áo mới nhận được đến gác nơi Bác làm việc. Thấy tôi, Bác cười và khen: – Hôm nay chú có áo mới rồi. – Dạ thưa Bác, đây là áo anh Bảy đem đến cho tiểu đội chúng cháu mỗi người một chiếc ạ. Nghe tôi thưa lại, Bác rất vui. Bác ân cần dặn dò thêm: – Trời lạnh, chú cần giữ gìn sức khỏe và cố gắng làm tốt công tác. Dặn dò xong, Bác trở lại ngôi nhà sàn để làm việc. Lòng tôi xiết bao xúc động. Bác đã dành áo ấm cho chúng tôi trong lúc Bác chỉ mặc một chiếc áo bông mỏng đã cũ. Đáng lẽ chúng tôi phải chăm lo cho Bác nhiều hơn, còn Bác, Bác lại lo nghĩ đến chúng tôi nhiều quá. Từ đấy, chúng tôi cũng trân trọng giữ gìn chiếc áo Bác cho như giữ lấy hơi ấm của Bác. Hơi ấm ấy đã truyền thêm cho chúng tôi sức mạnh trong mỗi chặng đường công tác.
Mẩu chuyện số 9: Bài học về sự đoàn kết (Chiếc đồng hồ) Mẩu chuyện số 9: Bài học về sự đoàn kết (Chiếc đồng hồ) Giữa mùa thu năm 1954, Bác đến thăm Hội nghị rút kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Hà Bắc. Tại hội nghị, được biết có lệnh của Trung ương rút bớt một số cán bộ đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai nấy cũng đều háo hức muốn đi, nhất là những người quê ở Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ thủ đô, nay được dịp về công tác, ai ai cũng có nguyện vọng được đề nghị cấp trên chiếu cố. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có nhiều phân tán. Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử. Lúc đó, Bác lên diễn đàn, giữa mùa thu nhưng trời vẫn còn nóng, mồ hôi ướt đẫm hai bên vai áo nâu của Bác, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Khi nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi các đồng chí cán bộ trong hội trường từng câu hỏi về chức năng của từng bộ phận trong chiếc đồng hồ. Ai cũng đồng thanh trả lời đúng hết các câu hỏi của Bác. Đến câu hỏi: -Trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng? Khi mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi: - Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không? - Thưa không được ạ. Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận: - Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ… cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì còn là cái đồng hồ được không? Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư của mình. Cũng chiếc đồng hồ ấy, một dịp vào cuối năm 1954 Bác đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau khi đi thăm nơi ăn, chốn ở của bộ đội, Bác đã dành một thời gian dài để nói chuyện với anh em. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt, âu yếm nhìn mọi người rồi chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại nói như vậy? Bác vui vẻ nói tiếp: “Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy”, nếu hoán đổi vị trí từng bộ phận cho nhau thì có còn là chiếc đồng hồ nữa không! Sau câu chuyện của Bác Anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành. Và Bác đã mượn hình ảnh chiếc đồng hồ quả quýt làm ví dụ để giáo dục, động viên những kỹ sư trẻ trường Đại học Nông Lâm Hà Nội vào dịp dến thăm trường ngày 24/5/1959, khi Bác đang khuyên sinh viên phải yên tâm cố gắng học tập, Bác cũng lấy trong túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi mọi người từng bộ phận của đồng hồ, từ cái kim giờ, kim phút, kim giây đến các bộ phận máy và bánh xe bên trong đồng hồ. Sau đó, Bác kết luận rằng mỗi một bộ phận có chức năng làm việc riêng, có thể người ngoài không thấy được nhưng đều có nhiệm vụ làm cho đồng hồ chạy và chỉ đúng giờ. Ngoài xã hội cũng vậy sau khi học xong ra phục vụ các ngành nghề đều ngang như nhau, không ai cao sang hơn ai, cho nên các cháu phải cố gắng yên tâm học tập, học tập cho thật giỏi đề trở thành kỹ sư nông nghiệp giỏi phục vụ nền nông nghiệp nước nhà. Đến ngày nay, câu chuyện về chiếc đồng hồ đã được Giáo sư - tiến sỹ Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội, người sinh viên trường Đại học Nông Lâm Hà Nội khi xưa, được vinh dự gặp Bác vào lần đó, kể lại và truyền động lực cho những kỹ sư của thế hệ này. Chiếc đồng hồ quả quýt còn là một hiện vật vô giá thể hiện tình cảm Quốc tế đối với Bác, đó là chiếc đồng hồ do Tổ chức Quốc tế “Cứu Tế đỏ” tặng, Bác luôn giữ nó trong mình, trong những năm tháng bị cầm tù gian khổ cho đến ngày Việt Nam giành được độc lập. Bài học kinh nghiệm: - Đối với cơ quan, đơn vị chúng ta cũng vậy, cũng giống như một chiếc đồng hồ, mỗi cá nhân, mỗi phòng, ban là một bộ phận không thể thiếu. Tất cả đều có một nhiệm vụ riêng, dù lớn dù nhỏ nhưng đó đều là một phần quan trọng trong một tổ hợp tập thể, mỗi nhiệm vụ như một mắc xích nối lại với nhau. Để tạo nên một mối nối thật sự vững chắc thì mỗi chúng ta - một mắc xích phải thật sự đoàn kết, nổ lực, cố gắng phát huy khả năng của mình, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Việc suy bì, tính toán thiệt hơn về quyền lợi, trách nhiệm hay lánh nặng tìm nhẹ thì sẽ dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của cả một tập thể. -Từ một chiếc đồng hồ, Bác đã gợi lên trong mỗi người nhận thức về một bài học quý giá. Đó là hiện vật vô giá về tình đoàn kết trong mỗi đơn vị, trong một quốc gia và tình đoàn kết quốc tế. Đoàn kết để ổn định, để đổi mới và sáng tạo, để làm nên tất cả bỡi lẽ "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công" . Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói: - Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình. Chị Ngân, chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên. Bác dịu dàng bảo: - Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền tuyến đánh Mỹ như thế nào? Tôi thưa: - Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác. Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ...Bác nói: - Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi". Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta. Bài học kinh nghiệm Câu chuyện ngắn gọn nhưng cho chúng ta nhiều bài học lớn: Bài học về tình cảm, sự quan tâm đối với các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; bài học về vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc để có thành công lớn... Điều chúng ta phải quan tâm là làm gì để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là việc đề ra các chính sách đối với các dân tộc thiểu số, quan tâm đến các vùng sâu, vùng xa để tạo ra sức mạnh to lớn của cả dân tộc, xây dựng đất nước giàu đẹp, mọi người dân đều ấm no, hạnh phúc.
Giới thiệu sách tháng 4 - 5: Bác Hồ tấm gương yêu nước Giới thiệu sách tháng 4 - 5: Bác Hồ tấm gương yêu nước
Mẩu chuyện Bác Hồ: Lấy dân làm gốc Mẩu chuyện Bác Hồ: Lấy dân làm gốc
Cài đặt ứng dụng “sos an ninh, trật tự” – chung tay xây dựng cộng đồng an toàn, không ma túy Cài đặt ứng dụng “sos an ninh, trật tự” – chung tay xây dựng cộng đồng an toàn, không ma túy
Ngày sách và văn hóa đọc việt nam lần v - năm 2026 Ngày sách và văn hóa đọc việt nam lần v - năm 2026
Mẩu chuyện số 12: Lấy dân làm gốc Mẩu chuyện số 12: Lấy dân làm gốc
Mẩu chuyện số 11: Tinh thần tự học của Bác Mẩu chuyện số 11: Tinh thần tự học của Bác
Chào mừng 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2026) Chào mừng 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2026)
Mẩu chuyện số 10: Bài học về sự chăm lo của Bác Hồ (Chiếc áo ấm) Mẩu chuyện số 10: Bài học về sự chăm lo của Bác Hồ (Chiếc áo ấm)
Mẩu chuyện số 9: Bài học về sự đoàn kết (Chiếc đồng hồ) Mẩu chuyện số 9: Bài học về sự đoàn kết (Chiếc đồng hồ)
Giới thiệu sách tháng 3: Chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 (Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh) Giới thiệu sách tháng 3: Chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 (Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh)
Cơ cấu tổ chứcLịch công tácLịch công tác - Cán bộ thuộc cơ cấu tổ chứcDịch vụ công - Thủ tục hành chínhWeb AdminHỏi đáp
Sơ đồ website